Sale!

In tem bảo hành tại Bình Phước

220.00 50.00

Giới thiệu xưởng chuyên: In tem bảo hành Bình Phước giá cạnh tranh chỉ từ 50đ/c

  • Thiết kế mẫu cực chất và miễn phí.
  • Dịch vụ in tem bảo hành (hay còn gọi tem bể, tem vỡ, tem vỏ trứng) chất lượng hàng đầu tại Việt Nam chỉ có ở In Quang Trung.
  • Khách ở nội thành TP. Hà Nội, thanh toán khi nhận, không cần phải đặt cọc, chuyển hàng tận nhà không tính phí 7km tính từ Ngã Tư Sở.
  • Khách ngoại tỉnh hoặc ở ngoại thành Hà Nội, thanh toán 100% tiền trước lúc in, không sử dụng COD (Ship Code). Chuyển tận nơi bằng kênh Viettel, cước quý khách tự trả cho nhân viên chuyển phát nhanh Viettel.

Liên hệ:

Chat Zalo: 0986675734

ĐT: 0986675734

Email: inquangtrung01@gmail.com

In tem bảo hành tại Bình Phước, giá tốt chỉ từ 50đ/cái, thiết kế cực đẹp và miễn phí hoàn toàn

Chúng tôi nhận: In tem bảo hành tại Bình Phước và ở các tỉnh khác ở trên toàn quốc với giá cực rẻ chỉ từ 50đ/cái tem, thiết kế mẫu không lấy phí, trả hàng tại địa chỉ của Quý khách bằng dịch vụ chuyển phát nhanh Viettel, (cước vận chuyển khach hàng tự thanh toán với nhân viên Viettel). Công ty in chuyên nghiệp in tem rách (tem bảo hành, tem vỡ) của chúng tôi có trụ sở tại Thủ đô Hà Nội. Chúng tôi không có đặt bất kỳ văn phòng hay chi nhánh ở tại Bình Phước hay ở tại Bình Dương cũng như ở tại các tỉnh trong toàn quốc. 

Mẫu tem bảo hành tròn elip
Mẫu tem bảo hành tròn elip chất lượng cao giá tốt, giao hàng tận nhà không tính phí

Chất liệu giấy làm tem: Giấy decal bể siêu dính, siêu vỡ chất lượng tốt nhất, với thương hiệu số 1 thế giới Chan Long (được in ở mặt đế phía sau)

Khổ (diện tích = dài x rộng) của tem: 10mmx20mm (là kích thước tem cực kỳ phố biến mà rất nhiều cửa hiệu chọn lựa)

Nếu mức số lượng đặt in: 7.000c tem, thì giá 140đ ==>>> Tổng tiền là: 980.000đ
(Nếu khách hàng in với số lượng tem nhiều hơn giá sẽ hạ thấp, đặt in với mức số lượng thấp hơn thì giá thành tăng cao hơn, số lượng tem của một đơn hàng ít nhất là 1.000 cái tem)

Mẫu tem bảo hành lấy ngay
Mẫu tem bảo hành lấy ngay giá tốt 50đ, thiết kế mẫu độc đáo & free, giao nhận nhà không tính phí nội thành HN

I – HƯỚNG DẪN ĐẶT: In tem bảo hành tại Bình Phước

1. Bước thứ nhất: Khách đặt hàng gọi điện hoặc gửi email xin báo giá.

+ Địa chỉ (email/hòm thư điện tử): inquangtrung01@gmail.com

+ Số Zalo/Hotline: 0986675734

2. Bước 2: Doanh nghiệp chúng tôi khi đó, ngay lập tức bắt đầu thiết kế mẫu tem (thiết kế mẫu tem bể đương nhiên là không tính phí)

3. Bước thứ 3: Người đặt kiểm duyệt mẫu và chỉnh sửa mẫu tem

4. Bước tiếp theo: Sau khi duyệt xong, Quý khách hàng báo chốt mẫu, chuyển khoản trước khi in.

In tem bảo hành tròn
In tem bảo hành tròn với giá 50đ, dựng mẫu rất đẹp & free

II – TRẢ TEM AND HÌNH THỨC THANH TOÁN TIỀN IN TEM

1. Bước thứ 1: Với khách sinh sống tại nội đô Hà Nội

– Thanh toán tiền khi nhận. Không cần đặt cọc trước.

– Giao hàng: Giao tem tại nhà khách hàng, miễn phí tiền giao hàng (7km tính từ cầu vượt Ngã Tư Sở). Còn nếu như xa hơn khi đó thu tiền giao hàng từ 30-50.000đ tùy khoảng cách, (In Quang Trung sẽ báo trước).

2. Bước thứ hai: Với khách hàng sinh sống ở ngoại tỉnh hoặc ngoại thành Hà Nội

– Hình thức thanh toán: Thanh toán 100% tiền hàng trước khi in, sau khi duyệt xong mẫu. (Khách hàng phải trả tiền trước vào tải khoản ATM của In Quang Trung).

– Giao hàng: Tem hoàn thiện thành phẩm sẽ gởi tới khách hàng bằng chuyển phát nhanh Viettel Post (Cước phí vận chuyển khách khách hàng tự thanh toán với nhân viên của công ty Viettel Post khi nhận hàng)

– In Quang Trung của chúng tôi không nhận gửi hàng đến địa điểm tập kết hàng chuyển đi ngoại tỉnh (vì rất mất thời gian).

Mẫu tem bảo hành elip
Mẫu tem bảo hành elip với giá chỉ từ 50đ, design rất đẹp và hoàn toàn free

III – RẤT HÂN HẠNH ĐƯỢC GIỚI THIỆU KHÁI NIỆM TEM BẢO HÀNH (HAY CÒN GỌI LÀ TEM VỠ): 

1. Thứ nhất: Cách gọi khác tùy thuộc vào vùng miền hoặc là cách nói của từng địa phương: Tem bảo hành hay tem vỡ, tem bể… đều là 1 loại

2. Thứ hai: Tem được sản xuất từ loại decal vỡ (có thương hiệu Chan Long ở mặt đế phía sau – Đây là loại decal có  chất lượng số 1 thế giới hiện đang được phân phối trên thị trường Việt Nam).

3. Thứ ba: Hình thức in ấn: Tem được thiết kế đẹp, nền hoa văn chống hàng giả, với nội dung cần thiết trong việc bảo hành sản phẩm và kết hợp quảng bá thương hiệu. Tem được in nhiều bằng máy in kỹ thuật số nhiều mầu sắc.

4. Thứ 4: Tem được sản xuất trên truyền máy in tiên tiến chuyên dùng, gia công sau in hoàn thiện sản phẩm, khách hàng chỉ việc bóc dán mà không phải làm thêm bất kỳ công đoạn nào khác. Do đó tem có chất lượng rất tốt.

5. Thứ 5: Độ bên của mầu mực: Chúng tôi sử dụng loại mực in cao cấp ngoài trời, do đó sản phẩm dán ngoài trời chịu nắng mưa thoải mái, không bị bay mầu mạc mầu trong khoảng 2 đến 3 năm.

7. Thứ 6: Thiết kế mẫu tem bảo hành luôn luôn không tính phí, sau khi thiết kế sơ bộ chúng tôi gửi file demo tới quý khách hàng chỉnh sửa và duyệt, sau khi khách hàng chốt mẫu chúng tôi mới sản xuất.

Quý khách hàng có nhu cầu in tem bảo hành, vui lòng gửi thông tin sau, chúng tôi sẽ gửi bảng báo giá:

  • Kích thước tem (dài x rộng);
  • Số lượng tem cần

Thông tin liên hệ với Công ty chúng tôi khách hàng vui lòng gửi thư tới:

  • Chat Zalo số: 0986675734
  • Email: inquangtrung01@gmail.com
    Mẫu tem bảo hành tròn

Mẫu tem bảo hành tròn giá tốt 200đ, mà làm mẫu demo độc đáo và hoàn toàn miễn phí 100%


  • In Quang Trung luôn chấp nhận đặt sản xuất tem nát thông qua: zalo – hotline – email
  • Thủ tục đặt hàng tem nát bảo hành vô cùng đơn giản, rất gọn
  • Chuyển trả hàng miễn phí đối với Đơn vị ở trong Hà Nội. Thanh toán tiền khi lấy hàng (thanh toán tiền sau, không cần đặt cọc)
  • Hotline/Zalo: 0986675734
  • Email: inquangtrung01@gmail.com

Theo: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bình Phước là một tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ, Việt Nam.

Hình ảnh có liên quan

Đây cũng là tỉnh có diện tích lớn nhất miền nam. Tỉnh lỵ của Bình Phước hiện nay là thành phố Đồng Xoài, cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 121 km theo đường Quốc lộ 13 và Quốc lộ 14 và 102 km theo đường Tỉnh lộ 741. Bình Phước là tỉnh nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam có 240 km đường biên giới với Vương quốc Campuchia trong đó 3 tỉnh biên giới gồm Tbong Khmum, Kratie, Mundulkiri, tỉnh là cửa ngõ đồng thời là cầu nối của vùng với Tây Nguyên và Campuchia.[2]

Năm 2018, Bình Phước là đơn vị hành chính Việt Nam đông thứ 43 về số dân, xếp thứ 36 về Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP), xếp thứ 19 về GRDP bình quân đầu người, đứng thứ 38 về tốc độ tăng trưởng GRDP. Với 979,6 nghìn dân[3], GRDP đạt 56.846 tỉ Đồng (tương ứng với 2,4689 tỉ USD), GRDP bình quân đầu người đạt 58,03 triệu đồng (tương ứng với 2.520 USD), tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 7,63%.[4]

Bình Phước là nơi định cư và sinh sống của nhiều dân tộc khác nhau, trong đó dân tộc ít người chiếm 17,9%, đa số là người Khmer, và Xtiêng, một số ít người Hoa, Nùng, Tày,…[5] vì vậy Bình Phước có nhiều nét văn hóa của người Xtiêng. Ngoài ra tỉnh còn có nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc như Liên hoan văn hóa các dân tộc thiểu số vào tháng 12 hàng năm, lễ hội cầu mưa của người Xtiêng, lễ bỏ mả, lễ hội đánh bạc bầu cua, đánh liêng tố xả láng ở điểm 2, lễ mừng lúa mới của người Khmer.[5]

Bình Phước là một tỉnh nằm ở phía bắc của vùng Đông Nam Bộ[6], có vị trí địa lý:

Phía đông giáp các tỉnh Lâm Đồng, Đồng Nai
Phía tây giáp Vương quốc Campuchia và tỉnh Tây Ninh
Phía nam giáp tỉnh Bình Dương
Phía bắc giáp Vương quốc Campuchia và tỉnh Đắk Nông.
Địa hình
Bình Phước là vùng chuyển tiếp từ cao nguyên Nam Trung bộ xuống đồng bằng Tây Nam bộ, nhìn chung địa hình Bình Phước tương đối bằng phẳng nhưng độ cao và độ dốc biến động lớn, phân bố không đều, phong phú về địa mạo, một số nơi địa hình bị chia cắt khá mạnh mẽ, gồm dạng địa hình đồng bằng và bán đồng bằng, trung du, đồi bát úp, núi thấp, cao nguyên thấp. Bình Phước là một tỉnh trung du miền núi nhưng địa hình không phức tạp, phần lớn diện tích tỉnh Bình Phước là đồi đất đỏ bazan từ kỉ phun trào macma kanozoi nối tiếp nhau (Phước Long, Bình Long, Lộc Ninh), có địa hình hơi dốc ở phía bắc và bằng phẳng dần ở phía nam. Độ cao trung bình chung của tỉnh không vượt quá 200 m, độ cao tuyệt đối là 736m (Núi Bà Rá).

Tài nguyên khoáng sản
Bình Phước có 13 loại đất, phần lớn nằm trên tầng bazan và phù sa cổ, diện tích lớn nhất là đất đỏ bazan chiếm khoảng 40%, nâu vàng trên bazan chiếm khoảng 15%, đất xám bạc màu trên phù sa cổ chiếm khoảng 15%, đất nâu vàng trên phù sa cổ chiếm 11%, đất đỏ vàng trên đá phiến chiếm khoảng 10%. Trong đó đất chất lượng cao trở lên chiếm 61,17% tổng diện tích đất tự nhiên, đất có chất lượng trung bình chiếm 36,78% diện tích đất tự nhiên và đất có chất lượng kém, hoặc cần đầu tư chiếm 1,15% tổng diện tích đất lâm nghiệp. Rừng của tỉnh Bình Phước đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái của vùng Đông Nam Bộ, có tác dụng tham gia điều hoà dòng chảy của các con sông.

Tổng diện tích đất lâm nghiệp của tỉnh Bình Phước chiếm 51,3% tổng diện tích đất toàn tỉnh. Toàn tỉnh hiện có khoảng 91 mỏ, điểm quặng, điểm khoáng với 20 loại khoáng sản có tiềm năng triển vọng khác nhau thuộc 4 nhóm gồm nguyên liệu phân bón, kim loại, phi kim loại, đá quý và bán quý. Trong đó nguyên vật liệu xây dựng, cao lanh, đá vôi… là loại khoáng sản có triển vọng và quan trọng nhất của tỉnh[6].

Khí hậu
Nằm trong vùng mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa với 2 mùa là mùa mưa và mùa khô, Vào mùa mưa, thời tiết thường mát mẻ, lượng mưa lớn, ngược lại vào mùa khô, lượng mưa ít, độ ẩm không khí giảm, thời tiết thường se lạnh vào đầu mùa khô đến giữa mùa khô đến cuối mùa khô thời tiết khô nóng rất khó chịu, Nhiệt độ bình quân trong năm khá cao đều và ổn định từ 25,8 ⁰C – 26,2 °C. Và thấp kỷ lục là 10⁰C cao kỷ lục là 38⁰C [6]

Thủy văn
Bình Phước có địa hình tương đối cao, là nơi bắt nguồn của nhiều sông, suối, có mạng lưới sông suối khá dày đặc 0,7 – 0,8 km/km², lớn nhất là sông Bé, sông Đồng Nai và sông Sài Gòn, các sông suối ở Bình Phước đều thuộc hệ thống sông Đồng Nai do vậy chế độ thủy văn của Bình Phước ảnh hưởng trực tiếp đến khu vực miền Đông Nam Bộ. Hầu hết các hồ tự nhiên đều có diện tích nhỏ, một số hồ nhân tạo phục vụ cho các công trình thủy điện hoặc lấy nước sản xuất và sinh hoạt có diện tích khá lớn là hồ Thác Mơ, hồ Sóc Miêng, hồ Cần Đơn, và đặc biệt là hồ thủy lợi Phước Hòa còn có tác dụng điều phối nguồn nước dồi dào từ sông Bé bổ sung nước cho hồ Dầu Tiếng giúp điều phối nước chống xâm nhập mặn cho sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ.

Giao thông
Bài chi tiết: Hệ thống Giao thông Đường bộ tại Bình Phước
Trên địa bàn tỉnh giao thông được thông suốt nối trong và ngoài tỉnh, hầu hết được nhựa hóa. Với các tuyến đường chính như Quốc lộ 13 từ cầu Tham Rớt đi theo hướng Nam – Bắc qua trung tâm huyện Chơn Thành, Bình Long đến Cửa khẩu Hoa Lư với tổng chiều dài là 79,90 km, Quốc lộ 14 nối các tỉnh Tây Nguyên qua Bình Phước về Thành phố Hồ Chí Minh với 112,70 km[7].

Ngoài ra, các tuyến đường khác như tỉnh lộ 741 (tên khác là đường Nguyễn Đức Thuận) kết nối trung tâm tỉnh với các huyện Đồng Phú, Phước Long, các tuyến đường liên huyện đã được láng nhựa, gần 90% đường đến trung tâm các xã đã được láng nhựa, các tuyến đường nối với tỉnh Tây Ninh, tỉnh Lâm Đồng đã được láng nhựa rất thuận tiện cho giao thông. Đường nối với tỉnh Đồng Nai cũng được nâng cấp mở rộng[7].

Tháng 11 năm 2012, Về doanh thu vận tải hành khách tháng này ước thực hiện 48,94 tỷ đồng, tăng 1,4% so tháng 10, tăng 13% so với cùng kỳ năm trước[8]. Doanh thu vận tải hàng hoá tháng này ước thực hiện 30,38 tỷ đồng, tăng 3,3% so tháng trước và tăng 15,5% so cùng kỳ năm 2011[8].

Dự kiến đến năm 2020-2025 sẽ có tuyến đường sắt xuyên Á đi qua Cửa khẩu Hoa Lư với tuyến đường sắt đi thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Miền Tây Nam Bộ. Tuyến đường xuyên Á sẽ nối với các nước Campuchia, Lào, Myanma, Malaysia, Thái Lan thuận lợi cho lưu thông hàng hóa và người qua lại giữa các nước trong khu vực[7].

Lịch sử
Bài chi tiết: Lịch sử hành chính Bình Phước
Thời nhà Nguyễn, địa bàn Bình Phước ngày nay thuộc trấn Biên Hòa. Đến giữa thế kỷ XIX, thực dân Pháp chia Nam Kỳ thành 4 khu vực là Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Bassac lúc này Bình Phước thuộc khu vực Sài Gòn. Năm 1889, thực dân Pháp đổi các tiểu khu thành các tỉnh, Bình Phước thuộc địa phận tỉnh Biên Hòa và Thủ Dầu Một[9].

Từ năm 1956, Việt Nam Cộng hòa thiết lập một số tỉnh mới ở miền Nam. Hai tỉnh Bình Long và Phước Long là tiền thân của tỉnh Bình Phước. Ngày 30 tháng 1 năm 1971, Trung ương Cục miền Nam thành lập phân khu Bình Phước. Cuối năm 1972, phân khu Bình Phước giải thể, tỉnh Bình Phước chính thức được thành lập[9].

Ngày 2 tháng 7 năm 1976, tại kỳ họp thứ nhất quốc hội khóa VI, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thành lập tỉnh Sông Bé bao gồm Thủ Dầu Một, Bình Phước và 3 xã thuộc huyện Thủ Đức, chia thành 7 huyện, thị và 1 thị xã. Ngày 9 tháng 2 năm 1978, tái lập huyện Lộc Ninh từ một số xã của hai huyện Bình Long và Phước Long[10]. Ngày 4 tháng 7 năm 1988, tái lập huyện Bù Đăng từ một phần huyện Phước Long[11].

Ngày 1 tháng 1 năm 1997, tỉnh Sông Bé tách thành hai tỉnh là Bình Dương và Bình Phước, lúc này tỉnh Bình Phước được tái lập gồm 5 huyện phía bắc của tỉnh Sông Bé là: Bình Long, Bù Đăng, Đồng Phú, Lộc Ninh, Phước Long[9]. Tỉnh lỵ đặt tại thị trấn Đồng Xoài thuộc huyện Đồng Phú.

Ngày 1 tháng 9 năm 1999, thành lập thị xã Đồng Xoài – thị xã tỉnh lỵ tỉnh Bình Phước trên cơ sở tách một phần diện tích và dân số của huyện Đồng Phú[12].

Ngày 20 tháng 2 năm 2003, tái lập huyện Chơn Thành từ một phần huyện Bình Long và tái lập huyện Bù Đốp từ một phần huyện Lộc Ninh[13].

Ngày 11 tháng 8 năm 2009, theo Nghị quyết số 35/NQ-CP của Thủ tướng Chính phủ, chia huyện Bình Long thành thị xã Bình Long và huyện Hớn Quản; chia huyện Phước Long thành thị xã Phước Long và huyện Bù Gia Mập[14].

Bản đồ hành chính tỉnh Bình Phước trước năm 2015
Đến thời điểm này, tỉnh Bình Phước có 10 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 3 thị xã: Đồng Xoài (tỉnh lỵ), Bình Long, Phước Long và 7 huyện: Bù Đăng, Bù Đốp, Bù Gia Mập, Chơn Thành, Đồng Phú, Hớn Quản, Lộc Ninh.

Ngày 15 tháng 5 năm 2015, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ra Nghị quyết số 931/NQ-UBTVQH14, thành lập huyện Phú Riềng trên cơ sở tách một số xã thuộc huyện Bù Gia Mập[15].

Ngày 16 tháng 10 năm 2018, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ra Nghị quyết 587/NQ-UBTVQH14, chuyển thị xã Đồng Xoài thành thành phố Đồng Xoài[16].

Từ đó, tỉnh Bình Phước có 1 thành phố, 2 thị xã và 8 huyện như ngày nay.

Hành chính
Hiện nay tỉnh Bình Phước có 11 đơn vị hành chính cấp huyện, bao gồm 1 thành phố, 2 thị xã và 8 huyện, chia thành 111 đơn vị hành chính cấp xã gồm 15 phường, 6 thị trấn và 90 xã.

Ðơn vị hành chính cấp Huyện Thành phố
Đồng Xoài Thị xã
Bình Long Thị xã
Phước Long Huyện
Bù Đăng Huyện
Bù Đốp Huyện
Bù Gia Mập Huyện
Chơn Thành Huyện
Đồng Phú Huyện
Hớn Quản Huyện
Lộc Ninh Huyện
Phú Riềng
Diện tích (km²) 167,3 126,2 118,8 1.503 377,5 1.062 390,5 935,4 663,8 854 675
Dân số (người) 108.595
(2019)

105.520 81.200 135.090 52.620 150.480 91.026
(2019)

90.200 100.790 120.650 95.300
Mật độ dân số (người/km²) 694 456 421 87 120 85 233 93 144 135 87
Số đơn vị hành chính 6 phường, 2 xã 4 phường, 2 xã 5 phường, 2 xã 1 thị trấn, 15 xã 1 thị trấn, 6 xã 8 xã 1 thị trấn, 8 xã 1 thị trấn, 10 xã 1 thị trấn, 12 xã 1 thị trấn, 15 xã 10 xã
Năm thành lập 2018 2009 2009 1988 2003 2009 2003 1977 2009 1978 2015
Nguồn: Website tỉnh Bình Phước
Dân cư
Lịch sử phát triển
dân số
Năm Dân số
1995 533.200
1996 551.400
1997 572.600
1998 608.100
1999 652.300
2000 682.900
2001 707.900
2002 732.600
2003 754.600
2004 777.400
2005 799.600
2006 819.000
2007 838.300
2008 858.000
2009 875.000
2010 888.200
2011 905.300
2017 965.773
2019 994.679
Nguồn:[17]
Là vùng đất cao ráo, khí hậu điều hòa không có gió bão cực đoan, không xa với trung tâm công nghiệp lớn, cũng đang trong quá trình phát triển công nghiệp mạnh mẽ, nên nhiều người dân từ các vùng trong cả nước chọn Bình Phước là nơi đến sinh sống và lập nghiệp.

Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, dân số toàn tỉnh Bình Phước đạt 994.679 người, mật độ dân số đạt 132 người/km²[18] Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 235.405 người, chiếm 23,7% dân số toàn tỉnh[19], dân số sống tại nông thôn đạt 759,274 người, chiếm 76,3% dân số[20]. Dân số nam đạt 501.473 người[21], trong khi đó nữ đạt 493.206 người[22]. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 1,3 ‰[23] Đây cũng là tỉnh ít dân nhất vùng Đông Nam Bộ với gần 1 triệu dân.

Thành phần dân tộc
Trên địa bàn tỉnh Bình Phước có sự cộng cư của 41 dân tộc anh em. bao các dân tộc Kinh, Stieng, Khmer, Mnông, Hoa, Tày, Nùng… trong đó dân tộc thiểu số đông nhất là Stieng.

Tôn giáo
Đại bộ phận dân cư trong tỉnh là không theo tôn giáo nào. Công giáo là tôn giáo có số lượng tín đồ đông đảo nhất, tiếp đến là Phật giáo, Tin Lành và Cao Đài.

Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, toàn tỉnh có 13 tôn giáo khác nhau đạt 322.818 người, nhiều nhất là Công giáo có 119.226 người, tiếp theo là Phật giáo đạt 115.996 người, đạo Tin lành có 83.607 người, đạo Cao Đài có 3.092 người, Hồi giáo chiếm 481 người, Phật giáo Hòa Hảo đạt 345 người. Còn lại các tôn giáo khác như Baha’i giáo có 25 người, Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa có 15 người, Minh Lý Đạo có 10 người, Bà La Môn có chín người, Minh Sư Đạo và Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam mỗi đạo 5 người và 2 người theo Bửu Sơn Kỳ Hương.[24]

Kinh tế

Đường liên huyện ở huyện Bù Đăng

Di tích căn cứ kháng chiến
ở huyện Lộc Ninh

Đường liên huyện ở Tx Bình Long

Đường liên xã ở Tx Bình Long
Bài chi tiết: Danh sách đơn vị hành chính Việt Nam theo GRDP
Bài chi tiết: Danh sách đơn vị hành chính Việt Nam theo GRDP bình quân đầu người
Nông nghiệp
Năm 2012 toàn tỉnh gieo trồng được 48,22 nghìn ha, đạt 99,9% kế hoạch năm, giảm 2,42% so cùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2012 ước đạt 65,47 nghìn tấn, đạt 105,4% kế hoạch năm, tăng 9,75% so với cùng kỳ năm 2011[25].

Ước tính đến ngày 1 tháng 10 năm 2012, toàn tỉnh có 15.934 con trâu, giảm 2,7% so với cùng kỳ năm 2011. Bò có 40.348 con, giảm 9,3%. Heo 224.006 con, tăng 11,5%. Gia cầm 3.368 ngàn con, tăng 1,3%. Sản lượng thịt trâu xuất chuồng năm 2012 ước 1.260 tấn, giảm 19,6%, bò 4.852 tấn, tăng 19,8%, heo 33.225 tấn, tăng 9,9%; gia cầm 13.404 tấn, tăng 3,3%; so cùng kỳ năm 2011[25].

Lâm nghiệp
Ước tính năm 2012, diện tích rừng được chăm sóc bảo vệ 26,95 km², giảm 10,1% so với cùng kỳ năm trước, diện tích rừng được khoanh nuôi tái sinh là 115 ha, đạt kế hoạch, bằng năm 2011, diện tích rừng được giao khoán bảo vệ 32.183 ha, đạt kế hoạch, giảm 1,9% so với năm 2011. Tính đến 31 tháng 10 năm 2012, các ngành chức năng đã phát hiện 65 vụ khai thác rừng trái phép, 213 vụ vận chuyển lâm sản trái pháp luật, 178 vụ mua, bán, cất giữ, chế biến kinh doanh lâm sản trái pháp luật, 79 vụ phá rừng làm thiệt hại 35,42 ha rừng[26].

Công nghiệp
Xem thêm: Danh sách các khu công nghiệp và khu kinh tế tại Bình Phước
Tháng 11 năm 2012, Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 4,6% so với tháng trước và tăng 19,3% so với cùng kỳ năm 2011, trong đó ngành công nghiệp khai thác mỏ tăng 8,4% so với tháng trước và tăng 10,1% so với cùng kỳ năm trước, công nghiệp chế biến tăng 4,8% và tăng 19,5%, sản xuất và phân phối điện, nước tăng 2,4% và tăng 17,6%[27].

Tính đến ngày 20 tháng 11 năm 2012, có 19 doanh nghiệp đăng ký hoạt động kinh doanh với tổng vốn đăng ký là 116,2 tỷ đồng, bằng 100% về số doanh nghiệp và 118,8% về số vốn đăng ký so với tháng trước. Lũy kế 11 tháng năm 2012, thu hút được 430 doanh nghiệp với tổng số vốn đăng ký 1.618,8 tỷ đồng, giảm 29,2% về số doanh nghiệp và 56,2% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2011[27].

Tháng 11 năm 2012, giá trị thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước gần 175,9 tỷ đồng. Lũy kế 11 tháng năm 2012, tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện 1.160,7 tỷ đồng, đạt 59,7% kế hoạch năm, trong đó cấp tỉnh 719,5 tỷ đồng, đạt 57,9% kế hoạch năm và cấp huyện 441,2 tỷ đồng, đạt 62,9% kế hoạch năm. Trước đố, tháng 10 năm 2012, tình hình giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản đạt 52% (820,2 tỷ đồng) kế hoạch năm 2012[27].

Nội thương
Tháng 11 năm 2012, tổng mức bán lẻ hàng hoá ước thực hiện 1.618,7 tỷ đồng, tăng 0,3% so với tháng 10 và tăng 15,6% so với cùng kỳ năm 2011. Trong đó, kinh tế nhà nước ước 59,1 tỷ đồng, bằng 100% so với tháng 10 và tăng 34% so cùng kỳ năm trước, kinh tế cá thể ước 1.052,7 tỷ đồng, tăng 0,5% và tăng 15,5%, kinh tế tư nhân 504,4 tỷ đồng, tăng 0,1% và tăng 13,8%, kinh tế tập thể ước 2,5 tỷ đồng, bằng 100% và tăng 39,7%[25]. Chỉ số giá tiêu dùng tăng 12,29% so cùng kỳ năm 2011 và tăng 11,51% so với tháng 12 năm 2011, chỉ số giá bình quân 11 tháng năm 2012 tăng 9,38% so với bình quân cùng kỳ năm 2011[27].

Ngoại thương
Trong 11 tháng đầu năm 2012, kim ngạch xuất khẩu ước thực hiện được 550.696 ngàn USD, giảm 10,9% so với cùng kỳ năm trước. Tháng 11 năm 2012, ước thực hiện 56.776 ngàn USD, tăng 1,5% so tháng trước và giảm 14,1% so cùng kỳ năm 2011. Trong tổng kim ngạch xuất khẩu, kinh tế nhà nước ước thực hiện 16.490 ngàn USD, chiếm 29%, tăng 12,8% so tháng trước và giảm 12,9% so với cùng kỳ, kinh tế tư nhân 29.536 ngàn USD, chiếm 52%, giảm 5,9% so tháng trước và giảm 25,9% so với cùng kỳ, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 10.750 ngàn USD, chiếm 18,9%, tăng 8,5% so tháng trước và tăng 47,4% so với cùng kỳ. Trong đó, Hạt điều nhân ước thực hiện 1.417 tấn (trị giá 9.280 ngàn USD), Mủ cao su thành phẩm ước thực hiện 11.050 tấn (trị giá 32.618 ngàn USD), Hàng nông sản khác ước thực hiện 2.370 ngàn USD, Hàng dệt may ước thực hiện 1.359 ngàn USD, Hàng điện tử ước thực hiện 3.000 ngàn USD, sản phẩm bằng gỗ ước thực hiện 2.066 ngàn USD, Hàng hóa khác ước thực hiện 4.440 ngàn USD[7].

Cũng trong 11 tháng năm 2012, kim ngạch nhập khẩu ước thực hiện được 103.939 ngàn USD, giảm 6,5% so với cùng kỳ năm trước. Tháng 11 năm 2012 ước thực hiện 14.810 ngàn USD, tăng 11,8% so tháng trước và tăng 43,7% so cùng kỳ năm trước. Trong tổng kim ngạch xuất khẩu, kinh tế nhà nước ước không thực hiện, kinh tế tư nhân 5.098 ngàn USD chiếm 34,4%, giảm 16,3% so tháng trước và giảm 15,4% so với cùng kỳ, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 9.712 ngàn USD chiếm 65,6%, tăng 35,7% so tháng trước và tăng 126,8% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, vải may mặc ước thực hiện 4.900 ngàn USD, hàng điện tử ước thực hiện 2.600 ngàn USD, hàng hóa khác ước thực hiện 7.212 ngàn USD[7].

Văn hóa – Xã hội
Du lịch
Nằm trong khu vực chuyển tiếp từ vùng Nam Trung Bộ sang vùng hạ Tây Nam Bộ do đó cảnh quan thiên nhiên, môi trường sinh thái của Bình Phước tương đối đa dạng với những khu vực có cảnh quan thiên nhiên đẹp, hệ sinh thái còn được bảo tồn nguyên vẹn…. tạo thành các khu vực có khả năng phát triển du lịch đặc biệt là du lịch sinh thái.

Các điểm tiềm năng du lịch nổi bật
-Hồ suối Lam ở khu vực xã Thuận Phú, huyện Đồng Phú
-Thác số 4 ở khu vực Quản Lợi,huyện Hớn Quản
-Hồ Sóc Xiêm ở khu vực thôn Lợi Hưng, huyện Hớn Quản
-Tràng Cỏ Bàu Lạch ở khu vực xã Đồng Nai, huyện Bù Đăng
-Khu vực Bà Rá – Thác Mơ ở khu vực Thị xã Phước Long
-Thác Dakmai: ở khu vực Thị xã Phước Long
-Thác Đứng ở khu vực xã Đoàn Kết, huyện Bù Đăng
-Thác Voi ở khu vực xã Đồng Nai, huyện Bù Đăng
-Rừng nguyên sinh Tây Cát Tiên: ở khu vực huyện Bù Đăng và Đồng Phú
-Đập Bà Mụ ở khu vực huyện Đồng Phú
-Vườn Quốc gia Bù Gia Mập: ở khu vực xã Bù Gia Mập, huyện Bù Gia Mập
-Cầu 39 ở khu vực xã Minh Hưng và Đức Liễu, huyện Bù Đăng
Di tích
-Căn cứ Quân uỷ Bộ Chỉ huy các lực lượng GPMNVN ở huyện Lộc Ninh
-Trụ sở Chính phủ CMLTMNVN (Nhà Giao Tế) ở huyện Lộc Ninh
-Sân bay Quân sự Lộc Ninh ở huyện Lộc Ninh
-Tổng kho nhiên liệu VK98 và Tổng VK99 ở huyện Lộc Ninh
-Di tích mộ tập thể 3000 người ở Thị xã Bình Long
-Di tích lịch sử cách mạng ở Núi Bà Rá ở Tx Phước Long
-Nhà tù Bà Rá thời chống Pháp ở Tx Phước Long
-Nghĩa trang liệt sĩ thời chống Mỹ ở Thị xã Phước Long
-Địa điểm ghi dấu cuộc nổi dậy của người S’tiêng ở huyện Bù Gia Mập
-Sóc Bom Bo ở khu vực huyện Bù Đăng
-Phú Riềng Đỏ, nơi thành lập Chi bộ CSĐD huyện Đồng Phú.
Các di tích khác
-Chùa Sóc Lớn (xã Lộc Khánh, huyện Lộc Ninh)
-Dinh tỉnh trưởng Bình Long (F.Phú Đức, Tx Bình Long)
-Vườn cây lưu niệm bà Nguyễn Thị Định (Thị xã Phước Long)
-Đình thần Hưng Long (thị trấn Chơn Thành)
-Thành tròn An Khương (huyện Hớn Quản)
-Thành tròn Lộc Tấn 2 (huyện Lộc Ninh)
-Chốt chặn Tàu Ô, Xóm Ruộng (huyện Chơn Thành)
-Trường Quốc Quang (An Lộc B)(F.Phú Thịnh, Tx Bình Long)
-Làng Công tra Lộc Thiện (huyện Lộc Ninh)
-Nhà máy chế biến mủ tờ (Cty Cao su Lộc Ninh)
-Cụm kiến trúc cổ người Pháp (huyện Lộc Ninh)
-Cầu Đaklung (thị trấn Thác Mơ, Phước Long).
-Giếng nước Lộc Ninh (thị trấn Lộc Ninh)
-Bến đò Thôn I (trên Sông Đồng Nai)
Lễ hội
-Lễ hội cầu mưa của người dân tộc S’Tiêng
-Lễ hội miếu Bà Rá từ ngày 1-4/3 âm lịch
-Tết mừng lúa mới của người M’Nông (lễ Cơm mới)
-Lễ Tết Chol Chnăm Thmây tết cổ truyền của người Khmer
-Lễ Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương
-Lễ hội đâm trâu mừng được mùa
-Lễ hội quay đầu trâu mừng lúa mới của người S’tiêng
-Lễ Bỏ Mả
-Lễ Phật Đản (rằm tháng 4 âm lịch)
-Lễ cúng Ông Bà hay còn gọi là lễ Dolta (cúng lúa mới)
-Lễ dâng y Katina (rằm tháng 10)
-Lễ dâng y Phật
-Lễ Vu Lan Báo Hiếu (tháng 7)
-Lễ Hoa Đăng
Giáo dục
Xem thêm: Danh sách các trường THPT tại Bình Phước
Xem thêm: Danh sách trường đại học, cao đẳng và trung cấp tại Bình Phước
Năm học 2011 đến 2012 toàn tỉnh có 429 trường học. Toàn tỉnh có 26/111 xã, phường, thị trấn được huyện, thị xã công nhận phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi, 100% số xã, phường, thị trấn đạt chuẩn xóa nạn mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học và THCS, học sinh tốt nghiệp THCS đạt 99,7%. Đặc biệt năm học vừa qua tỷ lệ học sinh bỏ học các cấp giảm chỉ còn 0,5% (giảm so với các năm trước từ 2-3%)[28].

Năm 2018, toàn tỉnh có 517 trường học, 237.476 học sinh. Cán bộ, giáo viên, nhân viên công tác tại các trường trên toàn tỉnh đạt 15.304 cán bộ. Về cơ sở vật chất không xảy ra tình trạng thiếu trường, lớp, không có lớp học ca 3. Tuy nhiên, ở một số địa phương vẫn còn nhiều khó khăn về cơ sở vật chất trường, lớp học[29]

Nguồn: https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%ACnh_Ph%C6%B0%E1%BB%9Bc